Đây là công nghệ mà hiện nay rất nhiều đơn vị đang áp dụng và mang lại những thành công trong việc xử lý nước thải chăn nuôi heo. Và đây cũng là phần cuối trong chuỗi bài viết các công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi heo của công ty SACOTEC. SACOTEC rất vui khi quý khách đã đón nhận, đưa ra những câu hỏi cho chuỗi bài viết này. Đồng thời sử dụng những kiến thức thực tế để áp dụng vào thực tế.

xu ly nuoc thai chan nuoi heo

THUYẾT MINH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI HEO

Nước thải trại heo được dẫn về hố thu gom bằng hệ thống mương dẫn nước thải. Nước thải tự chảy qua song chắn rác thô để loại bỏ những rác thải có kích thước lớn trong nước thải nhằm tránh làm tắc nghẽn các công trình phía sau.

Nước thải chăn nuôi heo được dẫn tiếp qua bể Biogas để xử lý và thu hồi khí Biogas tái sử dụng. Trong bể Biogas xảy ra quá trình lên men kị khí, vi sinh vật sử dụng chất hữu cơ để sinh trưởng và phát triển. Sau giai đoạn này sản phẩm tạo thành chủ yếu là CH4, CO2 và sinh khối. Nước thải sau khi qua bể Biogas vẫn còn chứa nhiều thành phần ô nhiễm như: BOD, COD, amoni, Phospho trong nước thải.

Nước trong hầm Biogas có hàm lượng chất rắn lơ lửng cao nên được dẫn tiếp qua bể lắng để lắng các bùn cặn có trong hệ thống.

Lưu lượng và chất lượng nước thải từ hố thu chảy về luôn dao động trong ngày, trong khi đó các hệ thống sinh học phải được cung cấp nước thải và hàm lượng các chất cần xử lý đều đặn do đó nước thải cần được bơm qua bể điều hòa để điều hòa lưu lượng cũng như hàm lượng các chất cần xử lý để đảm bảo hiệu quả cho các công trình xử lý phía sau, làm giảm kích thước và tạo chế độ làm việc liên tục ổn định cho các công trình xử lý tiếp theo, tránh hiện tượng quá tải, nhằm hạn chế việc gây “shock” tải trọng cho vi sinh vật. Dưới tác dụng của hệ thống sục khí được lắp dưới đáy bể, giúp hòa tan nồng độ và tránh cặn lắng trong nước thải.

Nước thải sau đó được bơm qua cụm xử lý sinh học công nghệ AO bậc 1, được thực hiện theo 2 quy trình (Anoxic – Oxic).

Tại bể Anoxic, xảy ra 2 quá trình:

Qúa trình Nitrate hóa: NO3sinh ra từ quá trình oxy hóa amoni từ bể hiếu khí, nước thải được bơm tuần hoàn về bể thiếu khí, cùng với bùn hoạt tính và nước thải được nạp vào, với điều kiện thiếu oxy, quá trình khử NO3 thành N2 tự do được thực hiện,và N2 tự do sẽ thoát ra ngoài không khí.

NH4+ à NO2 à NO3 à N2

Qúa trình phosphorit: chủng vi khuẩn Acinetobacter sẽ được tham gia vào nhằm hỗ trợ chuyển hóa các hợp chất hữu cơ chứa Photpho thành hợp chất mới loại bỏ hoàn toàn Photpho.

Tại bể Oxic (xử lý sinh học hiếu khí): với sự tham gia của nhóm vi sinh vật sinh trưởng dạng lơ lửng, quá trình phân huỷ xảy ra khi nước thải tiếp xúc với bùn trong điều kiện sục khí liên tục. Việc sục khí nhằm đảm bảo các yêu cầu cung cấp đủ lượng oxy một cách liên tục và duy trì bùn hoạt tính ở trạng thái lơ lửng.

Qúa trình xử lý sinh học hiếu khí nước thải gồm 3 giai đoạn:

Oxy hóa chất hữu cơ:

Chất hữu cơ + O2 → CO2 + H2O + năng lượng

Tổng hợp tế bào:

Chất hữu cơ + O2 + NH3 → Tế bào vi sinh vật + CO2 + H2O + năng lượng

Phân hủy nội bào:

C5H7O2N + O2 → CO2 + H2O + NH3 + năng lượng

Sau đó nước thải tiếp tục được dẫn lê bể AO bậc 2, tiếp tục xảy ra quá trình Anoxic – Oxic 1 lần nữa. Nước thải qua công trình AO1 và AO2 nâng cao hiệu quả khử Nito và các chất bẩn hữu cơ.

Sau khi ra khỏi bể AO bậc 2 trong nước vẫn còn 1 lượng bông bùn lơ lửng và lượng sinh khối vi sinh lơ lửng trôi theo dòng nước. Do đó, để giảm lượng chất rắn thải ra ngoài, nước thải được đưa qua bể lắng để lắng các bông cặn này nhờ phương pháp lắng trọng lực. Bể này cũng được thiết kế dạng vát đáy hình côn, dưới đáy bể có lắp bơm chìm để thu hồi bùn. Bùn này sẽ được tuần hoàn về bể sinh học hiếu khí để ổn định mật độ vi sinh, phần dư thừa xả bỏ qua bể chứa bùn.

Nước thải từ bể lắng sinh học sẽ đi theo đường ống qua bể trung gian để ổn định dòng nước và đến hồ sinh học. Hồ sinh học trong xử lý nước thải dùng để xử lý những nguồn thải thứ cấp với cơ chế phân hủy các chất hữu cơ xảy ra 1 cách tự nhiên. Vi sinh vật sử dụng O2 từ quá trình quang hợp của rong, tảo cùng với O2 từ không khí để oxy hóa các chất hữu cơ.

Sau đó nước thải được đưa qua cụm hóa lý

Tại cụm hóa lý, bể keo tụ tạo bông , châm hóa chất polymer và PAC tăng hiệu quả xử lí BOD,COD, P . Cụm bể hóa lí gồm 3 ngăn keo tụ +tạo bông+lắng ,  hóa chất sẽ được châm vào ngăn thứ nhất keo tụ , ở ngăn này nước thải sẽ được khuấy trộn đều với hóa chất , thời gian khuấy  trộn xảy ra ngắn nhất và tốc độ khuấy nhanh nhất  trong 3 ngăn. Sau đó sẽ được qua ngăn 2 : tạo bông . hóa chất tiếp tục châm , giảm tốc độ khuấy  và thời gian khuấy. lúc này sẽ hình thành các bông cặn lớn nên giảm tốc độ khuấy vì dễ làm vỡ bông cặn . nước được chảy qua ngăn 3: Lắng , tại đây các bông cặn sẽ lắng phần nước trong được dẫn đến bể khử trùng.

Nước thải sau đó được đưa đến bể khử trùng để châm clorine, đảm bảo nguồn nước đã được diệt khuẩn. Nguồn nước đảm bảo chất lượng và đạt QCVN 62:2016

PHÂN TÍCH CÔNG NGHỆ

Không cần bổ sung thêm lượng cacobn từ bên ngoài.

Xử lý hiệu quả Nito, Phospho, các chất hữu cơ và cặn lơ lửng.

Khó vận hành, đòi hỏi người vận hành có tay nghề cao

3 COMMENTS

  1. […] Nước thải từ trang trại chăn nuôi sau khi qua bể biogas sẽ xử lý hiệu quả lượng cặn và phân hủy chất hữu cơ bằng phương pháp lên men kị khí với sự tham gia của các VSV kị khí, giảm tải lượng chất ô nhiễm mạnh. Sau giai đoạn này khí được tạo ra chủ yếu là CH4, CO2 và sinh khối. Chúng ta có thể tận dụng lượng khí CH4 được sinh ra để tăng hiệu quả kinh tế. Cường độ lên men của các VSV phụ thuộc vào nhiệt độ, lượng cặn và mức độ xáo trộn.  Nước thải sau khi qua bể Biogas không xử lý triệt để được hàm lượng BOD, COD, Amoni, Phot pho có trong nước thải sau biogas. […]

Gửi phản hồi